CHIA SẼ PP BILLINGS VỚI CÁC THẦY PHÓ TẾ ĐCV TGP SG

Lượt xem : 370

CHIA SẼ PP BILLINGS VỚI CÁC THẦY PHÓ TẾ ĐCV TGP SG

Ngày 21.11.2018

PHƯƠNG PHÁP TÌNH YÊU

Một hôm, sau buổi giới thiệu Phương pháp Billings, một phụ nữ da đen bước ra từ bóng tối và cô nói “Đây là Phương pháp Tình yêu”. Ông John. J. Billings coi đây là dấu chỉ ý định của Thiên Chúa và tin rằng Thiên Chúa sẽ làm đến cùng để ý Ngài được thực thi.

Câu chuyện tình yêu bắt đầu từ lần gặp gỡ giữa chàng trai John Jame Billings và cô Evelyn Livingston Thomas trong một buổi thực tập trên xác. Ông yêu bà ngay từ cái nhìn đầu tiên. Sau khi tốt nghiệp y khoa, hai ông bà đã kết hôn vào năm 1943.

Tình yêu của họ bị gián đoạn bởi chiến tranh Thế giới. Sau chiến tranh họ gặp lại nhau và tiếp tục học chuyên khoa ở Anh. Cả hai ông bà đều là những nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực tâm thần và nhi khoa. Ông làm việc tại bệnh viện St. Vincent, đồng thời tham gia vào Hội đồng Quốc gia nghiên cứu sức khoẻ ở Melbourne, Úc. Bà làm phòng mạch tư và chăm sóc 9 người con, tham gia thỉnh giảng tại Đại học Melbourne.

Năm 1953, Cha Maurice Catarinich, Giám đốc Mục vụ Gia đình ở Melbourne, trăn trở vì nhiều đôi vợ chồng mang thai ngoài ý muốn hay không thể hoãn thụ thai vì những lý do quan trọng khi sử dụng các phương pháp tự nhiên (Ogino Knauss và đo thân nhiệt cơ bản), đã nhờ sự trợ giúp của các bác sĩ  tìm ra một phương pháp hữu hiệu hơn. Ông J.Billings hứa giúp trong ba tháng, không ngờ đó là “ba tháng dài nhất trong lịch sử”.

Ông bắt đầu tìm hiểu những hướng dẫn của phương pháp Ogino Knauss và đo thân nhiệt cơ bản để chắc rằng phương pháp đã được áp dụng đúng. Bs Ogino và Knauss cho biết thời gian từ khi rụng trứng đến khi có kinh là hằng định, khoảng 2 tuần. Đo thân nhiệt cơ bản chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan, nhờ thân nhiệt tăng lên sau rụng trứng, người phụ nữ biết được khoảng thời gian vô sinh sau rụng trứng. Đối với cả hai phương pháp này, với chu kỳ kéo dài hoặc cho con bú thì thời gian kiêng cữ rất dài, nếu chưa muốn có con.

Trong quá trình tìm kiếm các tài liệu, chất nhờn được nói đến rất sớm (1855, 1865, 1930) như là một loại huyết trắng lành tính, không gây hậu quả nghiêm trọng.

Ông hỏi các phụ nữ đến nhờ giúp đỡ, họ đều cảm thấy có chất nhờn tiết ra trong  khoảng thời gian rụng trứng. Ông đề nghị họ cùng lúc áp dụng những chỉ dẫn của phương pháp Ogino Knauss, đo thân nhiệt cơ bản và theo dõi chất nhờn. Tránh giao hợp vào thời gian có chất nhờn nếu không muốn thụ thai.

Qua hàng trăm mẫu ghi chép, Cha Catarinich và Ông J. Billings nhận thấy có sự liên quan giữa chất nhờn và khả năng sinh sản của các phụ nữ và cảm giác trơn rất có ý nghĩa. Những quy luật của Phương pháp Billings đã được đưa ra dựa trên hiện tượng Rụng trứng thay vì kinh nguyệt. Kết luận sơ bộ:

$11.     Không có thai khi tránh những ngày có chất nhờn và giao hợp từ ngày thứ tư sau cảm giác trơn cuối cùng

$12.     Khả năng có thai tăng dần khi giao hợp vào ngày 3,2,1sau cảm giác trơn cuối cùng. Ngày trơn cuối cùng là ngày nhiều phụ nữ có thai nhất và được xác định là ngày Đỉnh.

$13.     Chất nhờn cần cho sự sống của tinh trùng

$14.     Nhiệt độ không tiêu biểu

Năm 1963, Giáo sư James Brown bắt đầu nghiên cứu cùng Bs John Billings. Ông đã từ chối nghiên cứu thuốc tránh thai để giúp tìm kiếm một phương pháp tự nhiên, vì cho rằng nội tiết tố đưa vào cơ thể của phụ nữ mà không biết rõ tác dụng của nó, sẽ gây ra những hậu quả không lường. Các phụ nữ dùng phương pháp Billings được thu thập nước tiểu để đo nồng độ nội tiết tố Oestrogen và Pregnandiol. Với kỹ thuật phòng thí nghiệm, những thay đổi nội tiết tố buồng trứng và tuyến yên trùng hợp với thay đổi trên lâm sàng.

Ông J.Billings viết cuốn “Phương pháp Rụng trứng”. Năm 1965, sau khi đọc bản thảo cuốn sách, Bà Evelyn Billings đã quan tâm và tham gia vào nghiên cứu.

Bà nghiên cứu các trường hợp khó cùng Gs J. Brown, mẫu không thụ thai căn bản (khô, chất tiết và mẫu không thụ thai kết hợp trong chu kỳ dài có trì hoãn rụng trứng) đã được xác định khi mức nội tiết tố Oestrogen thấp nhất. Cũng vậy, ở phụ nữ tiền mãn kinh, dù nội tiết tố cho thấy có rụng trứng, nhưng cổ tử cung không tiết chất nhờn, cũng không thể có con. Vai trò của chất nhờn là rất quan trọng để có thai.

Phương pháp được đón nhận ở nhiều Quốc gia từ năm 1968. Có những lời chỉ trích, nhưng cũng có những lời động viên Ông J.Billings tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy phương pháp có nền tảng khoa học này.

Sự hợp tác của ông bà Billings và Giáo sư J.Brown đã xác nhận giá trị phương pháp. Nghiên cứu lâm sàng và nội tiết tố cho thấy phụ nữ có thể xác định mẫu thụ thai và không thụ thai. Năm 1972,kết quả được công bố trên tạp chí The Lancet (tạp chí y khoa Anh Quốc, rất giá trị và có lâu đời)

“Billings EL, Billings JJ, Brown JB, Burger HG. Symptoms and hormonal changes accompanying  ovulation. Lancet 1972 »

Năm 1970, ông bà Billings biết đến công trình nghiên cứu về chất nhờn cổ tử cung của Giáo sư Erik Odeblad. Năm 1977, Giáo sư có dịp đến Sydney và được tặng các tài liệu về Phương pháp Rụng trứng.

Giáo sư Erik Odeblade học về vật lý trước khi lấy bằng bác sĩ sản khoa. Ông không chấp nhận phá thai nên đã bỏ nghề bác sĩ cùng chức vụ đương nhiệm để cùng các đồng nghiệp nghiên cứu và sáng chế ra máy cộng hưởng từ đầu tiên. Ông dùng cộng hưởng từ NMR phân tích các hốc tuyến và chất nhờn cổ tử cung. Kết quả nghiên cứu đã được đăng báo khoa học Acta Radiologica vào năm 1957.  Ông cho biết có nhiều loại hốc tuyến, chất nhờn khác nhau ở cổ tử cung và khi nội tiết tố Progesteron tăng, chức năng hút ẩm của túi Shaw được hoạt hoá.

Nghiên cứu này giải thích vì sao có sự thay đổi tiến triển của cảm giác và hình thái chất nhờn vào thời kỳ dễ thụ thai. Hoạt động hút ẩm của túi Shaw giúp người phụ nữ nhận ra rõ ràng ngày có sự thay đổi hết trơn và biết chắc chắn đỉnh của sự thụ thai (ngày đỉnh X) là ngày hôm trước – ngày trơn cuối cùng.

Nhờ tinh thần hợp tác, hướng đến tình thương yêu nhân loại, đôi lứa, tôn trọng Quà tặng Chúa ban, mà Phương pháp Rụng Trứng Billings đã ra đời. Nhiều sách hướng dẫn phương pháp đã được xuất bản và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ông bà Billings được mời đi khắp nơi giảng dạy phương pháp và đào tạo giảng viên. Các buổi học luôn sinh động và vui tươi vì Ông bà luôn giảng dạy phương pháp với tình yêu thương.

Cho đến nay, vì những lợi ích giữ gìn phẩm giá con người, đặc biệt là người nữ; giúp thăng tiến tình yêu - hôn nhân gia đình qua thực hành đức khiết tịnh, mà phương pháp đã được 4 đời Giáo Hoàng chuẩn nhận (Phaolo VI, Gioan Phaolo II, Benedicto XVI, Phanxico), trong đó hai đấng đã được phong thánh. Đức Thánh Cha Phanxico đã tuyên bố phương pháp Billings là phương pháp tự nhiên đạt kết quả cao nhất hiện nay.

Ông bà Billings đã được Chúa ban cho một gia đình lớn hạnh phúc. Với đời sống đạo dức, khiêm nhường, yêu thương, chịu đau khổ để trung thành với thánh ý Thiên Chúa, Ông bà đã được lập hồ sơ đề cử phong thánh.

 

Ts.Bs Tuyết Minh Billings SG

PHƯƠNG PHÁP XÁC THẬT

Những hiểu biết khoa học về hoạt động của hệ nội tiết trong chu kỳ, làm nang trứng phát triển, gây đáp ứng tiết chất nhờn trên cổ tử cung trong toàn bộ đời sống sinh sản của người phụ nữ, từ lúc dậy thì cho đến khi mãn kinh, cả những giai đoạn đặc biệt như stress, cho con bú…đều không làm thay đổi bốn quy luật phương pháp Billings đã đưa ra ngay từ khi nghiên cứu trên lâm sàng.

Bốn quy luật đó là:

Luật 1: không giao hợp vào ngày ra máu kinh nhiều

Luật 2: Vào thời kỳ không thụ thai căn bản, có mẫu không thụ thai, vợ chồng được giao hợp cách đêm (không liên tiếp 2 đêm) và đầu đêm (lúc bắt đầu nằm xuống ngủ)

Luật 3: Kiêng ngay khi có sự thay đổi khác mẫu không thụ thai, kể cả ra máu, đợi và xem

$1·        Xem những thay đổi có tiến triển đến trơn không? Và có hết trơn?. Ngày đỉnh là ngày trơn cuối cùng. Nếu không thụ thai, kinh nguyệt sẽ xuất hiện sau 11 – 16 ngày, kể từ ngày 1 sau đỉnh

$1·        Nếu những thay đổi không tiến triển đến trơn và mẫu không thụ thai trở lại, phải đếm đủ ba ngày liên tiếp có mẫu KTT, ngày thứ tư còn mẫu KTT mới thật sự không còn khả năng thụ thai và vợ chồng được giao hợp theo luật 2, cách đêm và đầu đêm, cho đến khi lại có sự thay đổi khác với mẫu KTT.

Luật Đỉnh chỉ áp dụng khi đã xác định được ngày đỉnh: từ ngày 4 sau đỉnh, trứng đã chết, vợ chồng được giao hợp tuỳ ý

Các công trình nghiên cứu về nội tiết tố của Giáo sư J.Brown và về chất nhờn cổ tử cung cùng hoạt động của túi Shaw của Giáo sư Erik Odeblad chứng minh cho những quan sát lâm sàng là xác thật. Cho đến nay đã hơn 60 năm, không có hiểu biết và chỉ dẫn nào của phương pháp Billings cần thay đổi.

Giáo sư Eric Odeblad khẳng định Phương pháp Billings giúp người phụ nữ nhận biết chính xác khoảng thời gian nào có thể thụ thai hay không thụ thai, trong mọi giai đoạn biến đổi liên tục trong đời sống sinh sản của họ. Ông nhắc các giảng viên Phương pháp Rụng trứng Billings giúp học viên, dù có ít chất nhờn, nhận biết cảm giác có hay không có chất nhờn ở âm hộ và chú ý đặc tính vật lý của chất nhờn (có kéo sợi…) hơn là chỉ mô tả hình dạng chất nhờn.

Giáo sư Pilar Vigil, cộng sự thân tín của Giáo sư J. Brown đi giảng dạy khắp nơi về tầm quan trọng của rụng trứng hơn là kinh nguyệt, bà chứng minh “Rụng trứng là dấu hiệu khoẻ mạnh ở phụ nữ”. Bà chỉ ra rằng dùng nội tiết tố để điều hoà kinh nguyệt phá hoại quá trình tiến tới hoàn thiện cơ chế rụng trứng trong hai năm đầu của tuổi vị thành niên và làm tăng nguy cơ trầm cảm vốn dĩ đã cao ở tuổi này (NFC 2017).

Cha Linh hướng WOOMB Quốc tế Fr Hatti, OMI cho biết:

Con người chúng ta có khuynh hướng tự hào, và ma quỷ sử dụng nó để phân chia và chinh phục, bằng cách khuyến khích một số người nghĩ rằng họ có thể cộng hoặc trừ sự xác thật của Phương pháp rụng trứng Billings® để làm cho nó tốt hơn, an toàn hơn, v.v. Ma quỷ không biến mất. muốn ngừng công việc của bạn.

Chúng ta sẽ làm thất vọng với sự khiêm nhường và tiếp tục bước đi trong sự thật, với sự hiểu biết rõ ràng và thành tâm.

Chỉ với đầu óc khoa học, lòng thương cảm, khiêm nhường và tin tưởng, giảng viên Phương pháp Rụng Trứng Billings mới có thể giảng dạy phương pháp trong Sự Thật.

Billings SG, Cha đặc trách và các Thấy Phó Tế

TÀI TRỢ CHO PHƯƠNG PHÁP BILLINGS TẠI VIỆT NAM

    1.  Bà Joam Clements- Giám đốc Woomb Quốc tế 
    2. Bà  Gillian Barker-Giảng viên Woomb Quốc tế
    3. Lm Louis Nguyễn Anh Tuấn Linh hướng Woomb VN
    4. Hội yêu con trẻ Việt Nam Melbourne-Australia
    5. Bà Nguyn Th ThìMelbourne-Australia 
    6. Bà Bs Liên On và Ông Liên Trung Melbourne-Australia
    7. Thạc sĩ -Bs Nguyễn ThịTuyết Minh Sài gòn VN
    8. Cô Nguyễn Minh Tuyết Melbourne-Australia
    9. Tâm lý gia Đinh Thanh Thuỷ Melbourne-Australia
    10. Bom (PP Rụng trứng Billings) Thanh Hóa VN
    11. Bom (PP Rụng trứng Billings) Sài gòn VN
    12. Bom (PP Rụng trứng Billings) Ban Mê Thuột VN
    13. Bom (PP Rụng trứng Billings) Đà Lạt VN
    14. Bs Vũ Văn Hào Sydney-Autralia
    15. Cô Nguyễn Thị Tuyết Trinh Melbourne-Australia
    16. Bs Trần Thu Đàm Melbourne-Australia
    17. Ông Bà Trần Thế Độ Melbourne-Australia
    18. Bà cố Trần Thị Ngoãn Melbourne-Australia
    19. Cô Huỳnh Thị Thanh Melbourne-Australia
    20. Một bà mẹ trong Hội yêu con trẻ Việt Nam Melbourne-Australia
    21. Dược sĩ  Liên Trung Melbourne-Australia
    22. Cô Nguyễn Thị Ngọc Melbourne-Australia
    23. Sr Mary Dominique Trần Thị Tâm
    24. Lm Stephano Linh Hướng Woomb Miền trung và Billings BMT
    25. Anh Jos Dương Minh Long Sài gòn VN
    26. Bs Đặng Thị Hoàng Anh California USA
    27. Ông Bà Nguyễn Kim Ấn Melbourne Australia
    28. Ông Bà Thành Nam & Mỹ Anh Melbourne-Australia
    29. Ông Bà Phạm Công & Sáng (Nhóm Hồn Nhỏ) Melbourne-Australia
    30. Sr Marie Dominique Trần Thị Tám (Dòng Đa Minh) Melbourne-Australia
    31. Bà Lâm Thị Bích Ngọc Melbourne-Australia
    32. Bà Nguyễn Thị Chính Melbourne-Australia
    33. Bà Nguyễn Thị Hường Melbourne-Australia
    34. Ông Bà Hoàng Đức Trinh Melbourne-Australia
    35. Bà Mai Thị Nguyệt Melbourne-Australia
    36. Bà cố Mai Thị Thay Melbourne-Australia
    37. Bà Liên Vũ Melbourne-Australia
    38. Hội Cao Niên Melbourne-Australia
    39. Cùng một số Ân Nhân khác ...Australia ...xin không đưa tên
    40. Thay mặt cho Woomb VN xin chân thành cám ơn, Quý Ân Nhân và Thân nhân đã giúp đỡ chúng con trong công việc "Bảo vệ sự sống-Bảo vệ sức khỏe sinh sản-Chống phá thai" 

     

     

VIDEO

Liên lạc Woomb VN

Nữ tu Theresa Nguyễn Thị Phú

Đại diện Woomb VN 

Điện thoại: 0913742163

Thạc sĩ-Bác sĩ Teresa Nguyễn Thị Tuyết Minh   Thư ký Woomb VN

Điện thoại: 0903952194

Ông Matthew Lê Thanh Xuyến

TQ Woomb VN

Điện thoại: 0982859633

Email:  woombvn@gmail.com

Joomla Templates - by Joomlage.com